Cây riềng (còn gọi là riềng nếp, riềng thuốc) là loại cây thân thảo lâu năm thuộc họ Gừng (Zingiberaceae), có danh pháp khoa học quốc tế phổ biến là Alpinia officinarum Hance (riềng nhỏ/riềng thuốc) hoặc Alpinia galanga (L.) Willd. (riềng lớn/riềng nếp). Trong Đông y, thân rễ của cây riềng được gọi là Cao lương khương. Đặc trưng của riềng là vị cay the nồng, mùi thơm thơm hắc và hàm lượng tinh dầu dồi dào chứa galangin, cineol và eugenol.
Củ riềng tươi (Alpinia officinarum) - gia vị và vị thuốc quý trong y học cổ truyền
1. Kỹ thuật nhân giống cây riềng
Riềng là cây có sức sống mãnh liệt nhất trong nhóm gia vị họ Gừng. Cây được nhân giống chủ yếu bằng phương pháp tách nhánh thân rễ (củ giống) vào mùa xuân (tháng 2 – tháng 4) hoặc đầu mùa mưa:
- Chọn củ giống: Chọn khóm riềng mẹ khỏe mạnh từ 1 năm tuổi trở lên. Tách lấy đoạn thân rễ bánh tẻ (không quá non cũng không quá già), vỏ củ sáng màu, củ mập mạp và có sẵn 2–3 mắt mầm hoặc chồi non đang nhú.
- Xử lý hom giống: Cắt hom củ dài tầm 7–10 cm. Vết cắt có thể chấm tro bếp hoặc dung dịch sát khuẩn vôi loãng để tránh nấm mốc xâm nhập gây thối củ.
- Cách đặt hom: Đào rãnh hoặc hố sâu khoảng 7–10 cm, bón lót phân chuồng hoai mục. Đặt hom nằm nghiêng, mắt mầm hướng lên trên rồi phủ một lớp đất tơi xốp dày 5 cm và rơm rạ phủ mặt để giữ ẩm.
2. Điều kiện sinh trưởng và chăm sóc
Riềng là loại cây cực kỳ khỏe, ít sâu bệnh và chịu được điều kiện khắc nghiệt hơn hẳn gừng và nghệ:
- Đất trồng: Cây không kén đất, sống được từ đất đồi khô cằn đến đất thịt pha cát. Tuy nhiên, để củ phát triển to, mềm và thơm đậm đà, nên trồng trên đất tơi xốp, thoát nước tốt và giàu mùn hữu cơ.
- Ánh sáng và độ ẩm: Cây ưa sáng toàn phần hoặc chịu bóng râm một phần nhẹ. Khi có đủ ánh sáng, củ phát triển đẻ nhánh rất nhanh. Cần tưới nước định kỳ trong 1–2 tháng đầu; khi cây đã bám rễ thành khóm lớn thì có khả năng chịu hạn rất tốt.
- Làm cỏ và vun gốc: Trong 3 tháng đầu, cần làm sạch cỏ dại cạnh tranh dinh dưỡng. Khi bụi riềng phát triển lớn, tiến hành vun đất vào gốc mỗi năm 1–2 lần để củ mọc ngầm dưới đất không bị trồi lên chai cứng và xơ hóa.
- Thu hoạch: Sau khoảng 10–12 tháng là có thể bắt đầu bới lấy củ tỉa dần. Riềng có thể lưu gốc qua nhiều năm, đào đến đâu dùng đến đó mà không sợ củ bị thối nhũn như nghệ hay gừng già.
3. Những công dụng tuyệt vời của củ riềng
- Ấm bụng, giảm đau dạ dày do lạnh: Theo Đông y, Cao lương khương có vị cay, tính ấm, đi vào kinh Tỳ - Vị. Vị thuốc này chuyên trị các chứng nôn mửa, ợ chua, lạnh bụng, tiêu chảy mạn tính và đau dạ dày co thắt do tỳ vị hư hàn.
- Kháng khuẩn và nấm ngoài da: Dịch chiết củ riềng già ngâm cồn y tế là bài thuốc dân gian nổi tiếng để trị lang ben, hắc lào và nấm da nhờ hoạt tính kháng nấm và sát trùng tự nhiên rất mạnh.
- Chống oxy hóa và kháng viêm: Hợp chất galangin cùng các dẫn xuất flavonoid trong riềng giúp giảm các phản ứng viêm nhiễm, ức chế tổn thương do gốc tự do gây ra cho tế bào.
- Hỗ trợ tiêu hóa thức ăn giàu đạm: Tinh dầu riềng kích thích bài tiết enzyme tiêu hóa, giảm cảm giác ngấy, đầy bụng khi ăn các món giàu đạm và mỡ động vật.
- Linh hồn ẩm thực cổ truyền: Riềng là gia vị thiết yếu, tạo nên mùi thơm nồng nặc và hương vị độc nhất vô nhị trong các món ăn đậm đà bản sắc Việt như thịt kho riềng mẻ, cá kho riềng, chả cá Lã Vọng hay giả cầy.
• Do riềng có tính đại nhiệt (rất nóng), những người mắc chứng thực nhiệt (nhiệt miệng, đại tiện táo kết, sốt cao) không nên dùng nhiều.
• Phụ nữ có thai cần cẩn trọng khi dùng rượu ngâm riềng liều lượng cao hoặc bôi trên diện tích da quá lớn.

0 Comments
Post a Comment